📝 Nội dung dịch (Nhật – Việt)
日本人は「言霊」と言って昔から言葉には特別な力があると信じてきた。
Người Nhật Bản từ xưa đã tin rằng từ ngữ có một sức mạnh đặc biệt gọi là “kotodama”.
言霊というのは言葉が持つ不思議な力のことだ。
Kotodama là sức mạnh kỳ diệu mà từ ngữ mang lại.
昔の人は言葉を使うとそれが本当になってしまうと考えていた。
Người xưa tin rằng khi nói ra từ ngữ, nó sẽ trở thành hiện thực.
だから,「4」を「し」と発音すると「死」に通じると言って嫌がった。
Vì vậy, họ ghét số “4” vì khi phát âm là “shi” nó liên quan đến “tử” (chết).
病院に4号室がないのはそのためだ。
Đó là lý do tại sao không có phòng số 4 trong bệnh viện.
言葉をとても怖がっていたから、結婚式や葬式などで使ってはいけない言葉も生まれた。
Vì rất sợ từ ngữ, nên đã xuất hiện những từ không được sử dụng trong đám cưới hoặc đám tang.
結婚式で「わかれる・はなれる・きる」などは使わない。
Trong đám cưới, không sử dụng các từ như “wakaru” (chia tay), “hanareru” (tách ra), “kiru” (cắt).
結婚のお祝いのお金も2万円など(注1)偶数は「分かれる」つまり「別かれる」をイメージさせるから、3万・ 5 万などの分けられない(注2)奇数が喜ばれる。
Tiền mừng cưới cũng vậy, các số chẵn như 20,000 yên gợi lên hình ảnh “wakaru” (chia tách), tức là “chia lìa”, vì vậy các số lẻ không thể chia như 30,000 yên, 50,000 yên được ưa chuộng.
言葉に関心があったから言葉遊びもよくやっていた。
Vì quan tâm đến từ ngữ, người Nhật cũng thường chơi chữ.
中でも「語呂合わせ」が一番好きだったようだ。
Trong đó, có vẻ họ thích nhất là “goroawase” (chơi chữ dựa trên âm thanh).
語呂合わせというのは音を合わせることだ。
Goroawase là việc kết hợp các âm thanh.
歴史の年号や電話番号など数字を覚えるときにとても便利なので今でもよく使われている。
Nó rất tiện lợi khi nhớ các số như năm lịch sử hay số điện thoại, vì vậy vẫn được sử dụng nhiều đến ngày nay.
例えば8783は「はなやさん」、4192は「よいくに」などと言う。
Ví dụ, 8783 là “hanayasan” (tiệm hoa), 4192 là “yoikuni” (đất nước tốt).
そのため人気がある電話番号は売ったり買ったりされる。
Vì lý do này, các số điện thoại phổ biến thường được mua bán.
試合の前にトンカツを食べるのも「カツ」に「勝つ」を重ねている。
Việc ăn tonkatsu trước trận đấu cũng do “katsu” (cắt) liên quan đến “katsu” (thắng).
最近は「刺身」は外国人にも人気があるが、刺身という言葉は 「刺す・身」つまり「体を(ナイフなどで)刺す」に通じると 言って高級料理屋などではわざわざ「お造り」と言っている。
Gần đây, sashimi cũng được người nước ngoài ưa chuộng, nhưng từ “sashimi” liên quan đến “sasu” (đâm) và “mi” (thân thể), tức là “đâm vào cơ thể (bằng dao, v.v.)”, nên các nhà hàng cao cấp gọi là “otsukuri”.
「お造り」と言われても外国人には何のことかわからないだろう。
Ngay cả khi được gọi là “otsukuri”, người nước ngoài cũng không biết đó là gì.
今では言葉に力があると信じているわけではないが、聞いた人の気分を悪くさせないように言葉を変えて使うことがよくある。
Ngày nay, mặc dù không tin rằng từ ngữ có sức mạnh, nhưng người Nhật vẫn thường thay đổi từ ngữ để không làm người nghe cảm thấy khó chịu.
(注1) 偶数:2、4、6のように、2で割り切れる数
(Chú thích 1) Số chẵn: Các số như 2, 4, 6, có thể chia hết cho 2.
(注2) 奇数:1、3、5のように、2で割り切れない数
(Chú thích 2) Số lẻ: Các số như 1, 3, 5, không thể chia hết cho 2.