Bạn có muốn đọc tiếp từ trang 1?
1. 愛:奇跡の力
Tình yêu thương: Một sức mạnh kỳ diệu
ある大学教授が、社会学のクラスの学生たちをボルチモアのスラム街に連れて行き、そこに住む200人の少年たちの生活状況について調査記録を作成させました。現地調査の後、教授は学生たちに、それぞれの少年の将来についての見解をレポートにまとめるよう求めました。すると、学生たちは皆、「彼らに発展のチャンスはない」と結論付けたのです。
Một giáo sư đại học đã đưa các sinh viên lớp Xã hội học của mình đến khu nhà ổ chuột ở Baltimore để lập hồ sơ nghiên cứu về hoàn cảnh của 200 cậu bé sống ở đó. Sau chuyến đi, giáo sư yêu cầu các sinh viên viết bài thu hoạch nhận định về tương lai của từng cậu bé. Và các sinh viên đều kết luận rằng: các cậu bé này “không có cơ hội phát triển”.
それから25年後、別の社会学の教授が偶然、その以前の調査記録を目にしました。彼は自身の学生たちにその研究を引き継がせ、かつての少年たちのその後の運命を調査させました。引っ越してしまったり消息不明だった20人を除き、残りの180人のうち176人が並外れて成功していることがわかりました。彼らは皆、弁護士や医師、あるいは成功した実業家になっていたのです。
Hai mươi lăm năm sau, một giáo sư Xã hội học khác tình cờ xem lại hồ sơ nghiên cứu trước đó. Ông yêu cầu các sinh viên của mình tiếp tục công trình ấy để điều tra số phận sau này của những cậu bé đó. Ngoài 20 trường hợp các cậu bé đã chuyển đi nơi khác hoặc không biết tin tức, các sinh viên nhận thấy rằng có 176 trong số 180 trường hợp còn lại đều thành đạt trên mức bình thường; tất cả họ đã trở thành những luật sư, bác sĩ, hay các doanh nhân thành công.
教授は大変驚き、事の次第をもっと詳しく調べることにしました。幸いなことに、かつての少年たちは近隣の地域に住んでいたため、全員と会うことができました。彼が投げかけた質問は、「今日のあなたの成功の要因は何ですか?」というものでした。すべてのケースにおいて、答えは常に感動と共に返ってきました。「それは、ある恩師のおかげです」と。
Vị giáo sư rất đỗi ngạc nhiên, ông quyết định tìm hiểu kỹ hơn mọi chuyện. Rất may, những cậu bé ngày xưa vẫn sinh sống tại các khu vực lân cận nên ông có thể tiếp xúc với tất cả. Câu hỏi ông đặt ra là: “Đâu là nguyên nhân cho sự thành đạt của bạn ngày hôm nay?”. Trong tất cả các trường hợp, câu trả lời luôn đi kèm với sự xúc động: “Đó là nhờ một người thầy của tôi”.
その先生はまだご存命でした。そこで教授は、高齢ながらも未だだ聡明なその女性を探し出し、どのような奇跡が少年たちをスラム街から救い出し、今日のような成功をもたらしたのかを尋ねることにしました。
Người thầy đó vẫn còn sống nên vị giáo sư quyết tâm đi tìm và hỏi người phụ nữ tuy cao tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn ấy rằng phép lạ nào đã giúp bà cứu các cậu bé thoát khỏi khu nhà ổ chuột và đạt được những thành công như ngày hôm nay.
彼女の瞳がふと輝き、唇に優しい笑みを浮かべて言いました。「それはとても単純なことです。私はあの少年たちを信じていたからです」
Đôi mắt của bà chợt sáng lên và với một nụ cười dịu dàng trên môi, bà nói: “Điều đó rất đơn giản. Vì tôi có niềm tin vào những cậu bé đó.”
― エリック・バターワース
– Eric Butterworth
自分が成功できると信じれば、あなたは間違いなく成功するでしょう。
Khi tin rằng bạn có thể thành công, thì chắc chắn bạn sẽ thành công.
― マクスウェル・マルツ
– Maxwell Maltz
あなたが足を踏み入れるすべての場所に愛を捧げなさい。まずは、あなた自身の家の中から。
Hãy trao tặng tình yêu thương ở mỗi nơi bạn đặt chân đến: trước hết là ở ngay chính căn nhà của bạn.
子供たち、伴侶、そして隣人たちを愛しなさい…
Hãy yêu thương con cái, người bạn đời của bạn, và cả những người hàng xóm…
あなたの元を訪れる人が、より明るく、より幸せを感じることなく去っていくことがないようにしなさい。
Hãy đừng để người nào đến với bạn rồi ra đi mà không cảm thấy vui tươi và hạnh phúc hơn.
表情、眼差し、微笑み、そして温かい挨拶の中にそれを表し、神の慈愛の化身となりなさい。
Hãy là hiện thân cho lòng nhân ái của Thượng đế bằng cách thể hiện trên nét mặt, trong ánh mắt, trong nụ cười và cả trong những lời chào nồng nhiệt của mình.
― マザー・テレサ
– Mẹ Teresa
2. 勇気
Lòng can đảm
ある少女が、危険で非常に珍しい病気にかかりました。彼女が助かる唯一のチャンスは、同じ病気にかかったものの、奇跡的にその病気に対する抗体を自力で作ることができた5歳の兄から輸血を受けることでした。
Một bé gái mắc phải một căn bệnh nguy hiểm và rất hiếm gặp. Cơ hội được cứu sống duy nhất của cô bé là cần được truyền máu của cậu anh trai năm tuổi – cũng mắc phải căn bệnh ấy nhưng diệu kỳ thay, cậu bé lại sống được nhờ cơ thể đã tự sản sinh được một loại kháng thể chống lại căn bệnh đó.
医師は少年に事情を説明し、妹を救うために輸血をする意志があるかどうか尋ねました。少年は一瞬ためらいましたが、大きく深呼吸をして言いました。「妹が元気になるのに役立つなら、やります!」
Bác sĩ giải thích điều đó với anh trai của cô bé, và hỏi cậu có sẵn sàng truyền máu để cứu em gái mình hay không. Cậu bé do dự trong giây lát, rồi hít thở thật sâu và nói: “Cháu đồng ý nếu điều đó sẽ giúp em cháu có thể khỏe lại được!”.
輸血の間、二人は隣り合ったベッドに横たわっていました。妹の頬に赤みが戻ってくるのを見て、少年は微笑みました。しかしその後、少年の顔は青ざめ、笑顔は消えていきました。彼は医師を見つめ、震える声で尋ねました。「僕はもうすぐ死ぬのですか? どうか愛する妹を助けてあげてください!」
Khi đang truyền máu, hai anh em nằm trên hai chiếc giường gần nhau. Cậu bé mỉm cười khi nhìn thấy đôi má em gái mình bắt đầu lấy lại được sắc hồng. Rồi gương mặt cậu anh tái đi và nụ cười tắt dần. Cậu nhìn bác sĩ, giọng run run hỏi: “Cháu sắp chết rồi phải không? Bác sĩ cố gắng cứu sống đứa em gái thân yêu của cháu nhé!.”
その無邪気な少年は、医師の言葉を誤解しており、妹を救うためには自分の血液をすべて与えなければならないと思っていたのです。
Cậu bé ngây thơ ấy đã hiểu nhầm lời vị bác sĩ, cứ ngỡ rằng cậu sẽ phải cho em gái tất cả máu của mình để cứu em.
― ダン・ミルマン
– Dan Millman
勇気とは、恐怖に抵抗し、それを制御する方法を見つけることであり、それから逃げることではない。
Lòng can đảm giúp chúng ta chống lại nỗi sợ hãi, tìm cách khống chế nó, chứ không phải trốn tránh nó.
― マーク・トウェイン
– Mark Twain
3. ある、そのような兄
Một người anh như thế!
私は誕生日の機会に、とても素敵な自転車をプレゼントされました。ある時、公園へ自転車で遊びに行くと、一人の少年が興味深そうに、そして羨望の眼差しで自転車の周りをうろついていました。
Tôi được tặng một chiếc xe đạp rất đẹp nhân dịp sinh nhật của mình. Trong một lần đạp xe ra công viên dạo chơi, có một cậu bé cứ quanh quẩn ngắm nhìn chiếc xe với vẻ thích thú và ngưỡng mộ.
「これ、君の自転車?」と少年は尋ねました。
“Chiếc xe này của bạn đấy à?”, cậu bé hỏi.
「私の兄が、私の誕生日のプレゼントにくれたんだよ」と、私は誇らしさと満足感を隠すことなく答えました。
“Anh trai mình đã tặng nhân dịp sinh nhật của mình đấy”, tôi trả lời, không giấu vẻ tự hào và mãn nguyện.
「へえ、いいなあ。僕も…」と少年は言葉を濁しました。
“Ồ, ước gì tớ…”, cậu bé ngập ngừng.
もちろん、私は彼が何を願っているのか分かっていました。彼はきっと、自分もあのような兄がいればいいのにと願っているのだろうと。しかし、彼が発した言葉は、私にとって全く予想外のものでした。
Dĩ nhiên là tôi biết cậu bé đang ước điều gì rồi. Cậu bé hẳn đang ước ao có được một người anh như thế. Nhưng câu nói của cậu thật bất ngờ đối với tôi.
「僕も、そんなお兄さんになれたらいいのになあ!」と、彼はゆっくりと、しかしその顔にははっきりとした決意を浮かべて言いました。その後、彼は私の後ろにあるベンチの方へと歩いて行きました。そこには、身体の不自由な彼の弟が座っていました。彼は弟にこう言いました。
“Ước gì tớ có thể trở thành một người anh như thế!”, cậu ấy nói chậm rãi và gương mặt lộ rõ vẻ quyết tâm. Sau đó, cậu đi về phía chiếc ghế đá sau lưng tôi, nơi đứa em trai nhỏ tàn tật của cậu đang ngồi và nói:
「いつかお前の誕生日に、僕が車椅子を買ってあげるからね!」
“Đến sinh nhật nào đó của em, anh sẽ mua tặng em chiếc xe lăn, em nhé!”
― ダン・クラーク
– Dan Clark
逆境と勇敢に戦った時間を振り返る時、あなたは気づくでしょう。あなたが本当に生きた瞬間とは、愛を持って何かを心から成し遂げた時なのだと。
Khi nhìn lại đời mình trong những giờ phút kiên gan chống chọi với nghịch cảnh, bạn sẽ thấy rằng: những khoảnh khắc bạn sống thực sự là những lúc bạn làm được điều gì đó hết lòng bằng tình yêu.
― ヘンリー・ドラモンド
– Henry Drummond
4. 真実の愛
Tình yêu đích thực
有名なドイツの作曲家の祖父であるモーゼス・メンデルスゾーンは、非常に醜い容姿をしていました。背が低いだけでなく、彼は背中にこぶまでありました。
Moses Mendelssohn, ông nội của nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức, là một người có vẻ ngoài rất xấu xí. Ngoài vóc người thấp bé, ông còn bị gù lưng nữa.
ある日、彼はハンブルクのある商人を訪ねました。その商人にはフルムチェというとても可愛らしい娘がいました。フルムチェに会った瞬間、モーゼスは彼女に夢中になりましたが、彼女が彼の醜い外見を怖がっていたため、彼は絶望していました。
Một ngày kia, ông tới thăm một thương gia ở Hamburg, người này có cô con gái rất dễ thương tên là Frumtje. Ngay khi gặp Frumtje, Moses đã yêu cô say đắm nhưng tuyệt vọng bởi cô tỏ ra sợ sệt vẻ ngoài xấu xí của ông.
帰る時になり、モーゼスは勇気を振り絞って階段を上がり、彼女の部屋へ向かいました。彼女と話をする最後のチャンスを得たいと願っていたのです。彼にとって彼女は天使のような美しさの化身でしたが、彼女が常に彼を見るのを避けていたため、彼は深く悲しんでいました。
Đến lúc phải ra về, Moses thu hết can đảm đi lên cầu thang vào phòng cô gái, hy vọng có một cơ hội cuối cùng được nói chuyện với cô. Đối với ông, cô là hiện thân cho vẻ đẹp thiên thần, nhưng cô đã làm ông thật buồn khi luôn tránh nhìn ông.
いくつかの社交辞令を交わそうと試みた後、モーゼスは困惑しながら彼女に尋ねました。「あなたは、結婚というものが天国で前世から定められていると信じますか?」
Sau những cố gắng để có được một vài câu xã giao, Moses bối rối hỏi cô, “Cô có tin hôn nhân là việc đã được định đoạt bởi kiếp trước trên thiên đường không?”.
「信じています」と、彼女は床を見つめたまま答えました。「あなたは信じますか?」
“Tôi tin”, cô gái trả lời trong khi mắt vẫn nhìn xuống sàn nhà. “Và ông cũng tin chứ?”.
「はい、私もそう信じています」と彼は答えました。「ご存じでしょうが、天国では男の子が生まれるたびに、神様はその子が将来妻として迎える女の子のことを教えてくださいます。私が生まれた時、私の未来の花嫁も指定されました。」
“Có, tôi tin như vậy”, ông trả lời. “Cô biết đấy, ở trên thiên đường mỗi khi một cậu bé được sinh ra, Chúa trời cho cậu ấy biết về cô gái mà cậu sẽ cưới làm vợ. Khi tôi sinh ra, cô dâu tương lai của tôi cũng đã được chỉ định.
「そして、神様はこう付け加えられました。『お前の妻は背中にこぶがあるだろう』と。その瞬間、私は叫びました。『ああ神様、背中の曲がった女性というのは悲劇です。神様、どうか私にそのこぶを与えてください。そして、私の妻を美しくしてあげてください』と。」
Chúa còn nói thêm rằng vợ tôi sẽ bị gù. Ngay lúc đó, tôi kêu lên: ‘Ôi Chúa, một người phụ nữ gù hẳn sẽ là một thảm kịch. Thưa Ngài, xin Ngài hãy ban cho con cái bướu đó để người vợ của con được xinh đẹp’”.
フルムチェは顔を上げて彼の目を見つめました。その瞬間、彼女の心の中で激しい動揺が起こりました。彼女は身を乗り出してメンデルスゾーンに手を差し出し、その後、彼の献身的な妻となりました。
Frumtje ngước nhìn vào mắt ông và trong phúc chốc, tâm tưởng cô có một sự xáo trộn mãnh liệt. Cô vươn người tới đưa tay cho Mendelssohn nắm lấy và sau đó đã trở thành người vợ tận tụy của ông.
― バリー&ジョイス・ヴィッセル
– Barry và Joyce Vissell
愛には常にパラドックスが存在する。二人は一つでありながら、やはり二人なのだ。
Trong tình yêu luôn tồn tại nghịch lý: Hai người là một nhưng vẫn là hai.
― マーク・トウェイン
-Mark Twain
5. ささやかな行い
Một nghĩa cử bình dị
ある日、学校から歩いて帰宅している途中、マークは前を歩いていた少年がつまずき、持っていた教科書や2着のセーター、野球のバット、手袋、そして小さな録音機をばら撒いてしまうのを見かけました。マークは彼が散らばった物を拾うのを手伝いました。帰る道すがら、マークはその少年の名前がビルであること、テレビゲームや野球、歴史が好きなこと、いくつかの科目で問題を抱えていること、そしてつい最近彼女と別れたばかりであることを知りました。
Một ngày nọ, khi đang rảo bộ từ trường về nhà, Mark trông thấy một cậu bạn đi phía trước bị vấp ngã làm đổ tung sách vở mang trên người, cùng với hai cái áo len, một cây gậy chơi bóng chày, một đôi găng tay, và một chiếc máy ghi âm nhỏ. Mark cúi xuống giúp cậu ta nhặt lại những món đồ vương vãi. Trên đường đi, Mark được biết tên cậu là Bill, rằng cậu thích chơi điện tử, bóng chày và yêu thích môn lịch sử, rằng cậu đang gặp vài rắc rối trong một vài môn học, và rằng cậu ta vừa mới chia tay với bạn gái mình.
マークはビルを家まで送り届けた後、歩き続けました。その後、マークとビルは学校で会い続け、一度か二度一緒に昼食をとり、二人とも中学校を卒業しました。続く高校生活の数年間も、彼らは頻繁に会っていました。そして待ちに待った高校最後の年がついにやってきました。卒業式の3週間前、ビルはマークに話ができないかと尋ねました。
Mark tiếp tục đi sau khi tiễn Bill về nhà. Sau đó, Mark và Bill tiếp tục gặp nhau trong trường, cả hai cùng ăn trưa với nhau một, hai lần, rồi cả hai cùng tốt nghiệp phổ thông. Trong những năm kế tiếp ở trường trung học, họ vẫn thường xuyên gặp gỡ nhau. Rồi năm cuối cùng, ở bậc trung học chờ đợi từ lâu cũng đã đến. Ba tuần trước khi lễ tốt nghiệp diễn ra, Bill hỏi Mark xem liệu họ có thể gặp nhau trò chuyện được không.
ビルはマークに、二人が初めて出会った日のことを思い出させました。「あの日、僕がどうしてあんなにたくさんの荷物を家に持って帰っていたのか、不思議に思ったことはない?」とビルは尋ねました。「実はね、僕はロッカーを空にしていたんだ。あのごちゃごちゃした荷物を他の誰かに残したくなかったから。その前に、僕は母さんの睡眠薬を盗んでいて、あの日は家に帰って自殺するつもりだったんだ。
Bill nhắc Mark nhớ lại ngày hai người gặp nhau lần đầu. “Cậu có bao giờ tự hỏi vì sao vào hôm đó mình lại mang nhiều đồ về nhà như vậy không?”, Bill hỏi. “Cậu biết không, mình đã dọn sạch ngăn tủ vì mình không muốn để mớ đồ đạc lộn xộn đó lại cho người khác. Trước đó, mình đã lấy trộm của mẹ một số thuốc ngủ và lần về nhà đó là để tự tử.
でも、君と一緒に話をして笑い合った時、もし死んでしまったら、あの思い出に残る瞬間や、もしかしたらこれからの素晴らしい時間も逃してしまうことになるだろうと気づいたんだ。わかるかい、マーク。あの日、君が僕の本を拾ってくれた時、君はそれ以上のことをしてくれたんだよ。君は僕の命を救ったんだ」
Nhưng khi cùng trò chuyện và cười đùa vui vẻ với cậu, mình nhận thấy rằng nếu chết đi, mình sẽ tiếc lắm khoảnh khắc đáng nhớ đó, và có thể cả quãng thời gian tuyệt vời sau này nữa. Cậu thấy đấy, Mark, vào ngày hôm đó, khi cậu nhặt hộ mình những cuốn sách, cậu đã làm được hơn thế rất nhiều. Cậu đã cứu cuộc đời mình đấy”.
― ジョン・W・シュラッター
– John W. Schlatter
誰もが偉大になることができます。
Mọi người đều có thể trở nên vĩ đại.
必要なのは、あなたの心が寛容さに満ち、魂が愛に溢れていることだけです。
Chỉ cần trái tim bạn chan chứa lòng khoan dung, và tâm hồn bạn tràn ngập tình yêu thương.
6. ペットショップの子犬たち
Những chú chó con ở cửa hiệu
ある少年がペットショップの前に現れ、店主に尋ねました。「犬の値段は一匹いくらですか?」
Một cậu bé xuất hiện trước cửa hàng bán chó và hỏi người chủ cửa hàng: “Giá mỗi con chó là bao nhiêu vậy bác?”.
店主は答えました。「一匹、30ドルから50ドルくらいだよ!」
Người chủ cửa hàng trả lời: “Khoảng từ 30 tới 50 đô la một con!”.
少年は遠慮がちに言いました。「見てもいいですか?」
Cậu bé rụt rè nói: “Cháu có thể xem chúng được không ạ?”.
店主は微笑んで口笛を吹きました。犬小屋の中から、毛糸玉のような5匹の小さな子犬が走り出てきましたが、1匹だけがかなり遅れていました。
Người chủ cửa hàng mỉm cười rồi huýt sáo ra hiệu. Từ trong chiếc cũi, năm chú chó con bé xíu như năm cuộn len chạy ra, duy có một chú bị tụt lại sau khá xa.
すぐに少年は、その動きが遅く、少し足を引きずっている子犬に気づきました。彼は尋ねました。「この子はどうしたんですか?」
Ngay lập tức, cậu bé chú ý tới chú chó chậm chạp, hơi khập khiễng đó. Cậu liền hỏi: “Con chó này bị sao vậy bác?”.
店主は、その犬が股関節に障害を持っていて、一生足を引きずることになるだろうと説明しました。それを聞いて、少年は感動した様子で言いました。「僕が買いたいのはその子です」
Ông chủ giải thích rằng nó bị tật ở khớp hông và nó sẽ bị khập khiễng suốt đời. Nghe thế, cậu bé tỏ ra xúc động: “Đó chính là con chó cháu muốn mua”.
店主は言いました。「もし本当にその犬が好きなら、あげるよ。でも、わざわざ買う必要はないと思うけどな」
Chủ cửa hàng nói: “Nếu cháu thực sự thích con chó đó, ta sẽ tặng cho cháu. Nhưng ta biết cháu sẽ không muốn mua nó đâu”.
少年の顔に悲しみの色が浮かびました。彼は店主の目をまっすぐに見つめて言いました。「ただでもらいたくはありません。その犬も、他の犬と同じだけの価値があるからです。僕は正当な値段を払います」
Gương mặt cậu bé thoáng buồn, cậu nhìn thẳng vào mắt ông chủ cửa hàng và nói: “Cháu không muốn bác tặng nó cho cháu đâu. Con chó đó cũng có giá trị như những con chó khác mà. Cháu sẽ trả bác đúng giá.
「実は、今すぐには2ドル37セントしか払えません。でもその後、毎月50セントずつ払いますので、いいですか?」
Thực ra, ngay bây giờ cháu chỉ có thể trả bác 2 đô la 37 xu thôi. Sau đó, mỗi tháng cháu sẽ trả dần 50 xu được không ạ?”.
「本気で言っているのかい、その犬を買うのはやめたほうがいい」、店主は忠告しました。「その子は、他の犬のように走ったり遊んだりすることは、決してできないんだよ」
“Bác bảo thật nhé, cháu không nên mua con chó đó”, người chủ cửa hàng khuyên. “Nó không bao giờ có thể chạy nhảy và chơi đùa như những con chó khác được đâu.”
彼が話し終えるやいなや、少年は身をかがめてズボンの裾をまくり上げ、金属の棒で支えられた、ひどくねじ曲がった不自由な左足を見せました。
Ông vừa dứt lời, cậu bé liền cúi xuống vén ống quần lên, để lộ ra cái chân trái tật nguyền, cong vẹo được đỡ bằng một thanh kim loại.
彼は店主を見上げて、静かに言いました。「僕自身も走ったり跳んだりできません。だから、この子犬には、理解して遊んでくれる誰かが必要なんです」
Cậu ngước nhìn ông chủ cửa hàng và khẽ bảo: “Chính cháu cũng chẳng chạy nhảy được mà, và chú chó con này sẽ cần một ai đó hiểu và chơi với nó”.
― ダン・クラーク
– Dan Clark
7. 心からの歌
Bài hát từ trái tim
ある親切な男性が、夢にまで見た女性と結婚しました。二人の愛は実を結び、とても可愛らしい女の子が生まれました。
Có một người đàn ông tốt bụng cưới được người phụ nữ như ông hằng mơ ước. Tình yêu của họ đơm hoa kết trái và họ sinh hạ được một cô con gái rất xinh xắn, dễ thương.
娘が大きくなっても、父親はよく彼女を抱きしめて言いました。「愛しているよ、私の小さな娘」。娘は拗ねて言いました。「もう、お父さんったら。私はもう子供じゃないのよ」。しかし、父親はいつも笑ってこう答えました。「私にとっては、お前はいつまでも私の小さな娘なんだよ」。
Khi cô gái đã lớn, người cha vẫn thường ôm cô vào lòng và nói: “Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố”. Cô con gái giận dỗi: “Kìa bố, con không còn là một đứa bé nữa”. Nhưng người cha luôn cười xòa và đáp: “Đối với bố, con luôn là con gái bé bỏng của bố”.
ある日、その「もう小さくない娘」は、外の世界を知るために愛する家を離れることにしました。彼女が本当に自分自身を理解した時、それは父親のこともより深く理解した時でもありました。彼の長所の一つは、家族への愛情を常に表現することでした。彼女がどこにいようと、父親は電話をかけてこう言いました。「愛しているよ、私の小さな娘」。
Một ngày kia, cô-con-gái-không-còn-bé-bỏng ấy quyết định rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình để khám phá thế giới xung quanh. Khi cô gái thật sự hiểu về bản thân mình thì cũng là lúc cô hiểu về cha mình hơn. Một trong những điểm mạnh của ông là ông luôn bày tỏ tình thương yêu với gia đình của mình. Bất kể cô đang ở đâu, cha vẫn gọi cô và nói rằng: “Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố”.
ある日、彼女は予期せぬ電話を受けました。父親が脳卒中で倒れ、麻痺が残ってしまったというのです。彼は話すことも、笑うことも、歩くこともできず……そして、彼女をとても愛していると伝えることさえできなくなってしまいました。
Một ngày nọ, cô gái nhận được một cú điện thoại không mong đợi: cha cô đã bị liệt sau một con đột quỵ. Ông không thể nói, không thể cười, không thể đi lại… và không thể nói được với cô rằng ông rất yêu cô.
彼女は父親のもとへ帰りました。部屋に入ると、そこには小さく弱り果てた父の姿がありました。彼は彼女と話そうと努力しましたが、できませんでした。彼女にできる唯一のことは、彼のそばに座り、動かない肩を抱きしめることだけでした。父の胸に頭をもたせかけ、彼女は様々な思いを巡らせました。幼い頃からいつも父に守られ、大切にされてきたことを思い出しました。愛する父を失うかもしれないという痛みに、心が締め付けられるようでした。父からの慰めの愛の言葉は、もう二度と聞けないのです。
Cô trở về bên cha. Khi bước vào phòng, cô thấy ông nằm đó, trông thật bé nhỏ và ốm yếu. Ông gắng gượng trò chuyện cùng cô nhưng không thể. Điều duy nhất mà cô có thể làm là ngồi bên cạnh ông, vòng tay ôm lấy đôi vai bất động của cha mình. Tựa đầu lên ngực cha, cô suy ngẫm nhiều điều. Cô nhớ lại rằng mình luôn cảm thấy được cha che chở, nâng niu từ tấm bé. Cô thấy lòng quặn thắt trước nỗi đau sắp mất đi người cha yêu quý. Không còn nữa rồi những lời yêu thương vỗ về của cha.
その時ふと、彼女は父の心臓の鼓動を耳にしました。彼の心臓は、衰弱した体の他の部分を乗り越えようとするかのように、規則正しく、力強く鼓動していました。そして、父の胸で安らぎを感じていたその瞬間、奇跡が起こりました。彼女は聞きたかったあの愛の言葉を聞いたのです!
Và bỗng nhiên, cô nghe tiếng nhịp đập trái tim người cha. Trái tim ông vẫn đập đều đều, mạnh mẽ, như muốn vượt lên tất cả những phần cơ thể đau yếu còn lại. Và trong giây phút được bình yên trên ngực cha như thế, điều kỳ diệu đã xảy ra: Cô đã nghe được những lời yêu thương mà cô muốn nghe!
父親の心臓は、彼の口がもう語ることのできない言葉を発していました。「愛しているよ、私の小さな娘……愛しているよ……」。そして彼女は、父のその目に見えない愛の言葉によって、慰められ、癒やされたのです。
Trái tim của người cha phát ra những lời mà miệng ông không còn nói được nữa: “Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố…Bố yêu con…” và cô đã được vỗ về, an ủi bởi những lời nói yêu thương vô hình ấy của cha.
― パティ・ハンセン
– Patty Hansen
8. 関心を寄せることの価値
Giá trị của sự quan tâm
ある日の仕事帰りの夜、一人の男性が家に帰り、14歳の息子と座って話をしました。
Một buổi tối sau giờ làm việc, một người đàn ông trở về nhà và ngồi nói chuyện với cậu con trai 14 tuổi của mình:
「今日、父さんはとても不思議なことがあったんだ。オフィスにいた時、ある社員が入ってきて、父さんを尊敬していると言って、父さんの創造的な才能を称えるためにこの青いリボンをくれたんだ。リボンには『私は違いを生み出した』と書かれていたよ。
“Hôm nay bố gặp một chuyện rất lạ. Khi bố đang ở văn phòng, một nhân viên bước vào và nói rằng anh ấy ngưỡng mộ bố, và đã tặng bố chiếc nơ xanh này để tôn vinh tài năng sáng tạo của bố, trên chiếc nơ có ghi ‘Tôi đã làm nên sự khác biệt’.
彼はもう一つリボンをくれて、誰か特別な人に渡していいと言ったんだ。帰り道、誰にあげようか考えていて、お前のことを思ったんだ。父さんはこのリボンをお前にあげたいんだよ。
Anh ấy cũng đưa bố một chiếc nơ nữa và nói bố có thể trao tặng nó cho một người đặc biệt khác. Trên đường về nhà, bố nghĩ xem mình có thể tặng ai, và bố đã nghĩ đến con. Bố muốn trao tặng chiếc nơ này cho con.
父さんは本当に忙しくて、家に帰ってもあまりお前のことを気にかけてやれなかった。成績が良くなかったり、部屋が散らかっていたりすると、時々叱ったりもしたね。
Bố thật sự rất bận nên mỗi khi về nhà, bố đã không quan tâm nhiều đến con. Đôi khi bố la mắng vì con không đạt điểm cao hoặc vì con không dọn dẹp để phòng ngủ bề bộn.
でも今夜は、なぜだかお前とここに座って…ただ伝えたかったんだ。父さんにとって、母さん以外では、お前が一番大切な人だということを。お前は素晴らしい息子で、父さんはお前をとても愛しているんだ。」
Nhưng tối nay, không hiểu sao bố lại muốn ngồi đây với con và… chỉ muốn nói cho con biết rằng đối với bố, ngoài mẹ con ra, con là người quan trọng nhất. Con là một đứa con tuyệt vời và bố rất thương yêu con”.
少年は驚き、すすり泣き始めました。彼の全身が震えていました。彼は涙越しに父を見上げて言いました。
Cậu bé giật mình sửng sốt, và bắt đầu thổn thức. Toàn thân cậu rung lên. Cậu ngước nhìn bố qua làn nước mắt và nói:
「実は、僕は明日命を絶とうとしていたんです。父さんは僕を愛していないと思っていたから。でも今は、もうそんなことをする必要はありません。」
“Vậy mà con định sẽ từ giã cuộc đời vào ngày mai vì con nghĩ bố không yêu thương con. Giờ đây, con không cần phải làm như thế nữa”.
― ヘリス・ブリッジス
– Helice Bridges
愛は私たちすべてにとって、魔法の薬である。与える人にとっても、受け取る人にとっても。
Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.
― カール・メニンガー
– Karl Menninger
9. 慈愛の行い
Một hành động của lòng nhân ái
南北戦争の最中、エイブラハム・リンカーン大統領は、治療を受けている負傷兵を見舞い、話をするために、よく病院を訪れていました。ある時、医師たちはリンカーンを死期が迫った若い兵士のベッドへと案内しました。
Trong suốt thời gian xảy ra nội chiến, Tổng thống Abraham Lincoln vẫn thường đến các bệnh viện để thăm hỏi và trò chuyện với những thương binh đang điều trị ở đó. Một lần, các bác sĩ dẫn Lincoln đến bên giường một người lính trẻ đang gần kề cái chết.
「今すぐ私にできることは何かあるかね?」と大統領は尋ねました。
“Tôi có thể làm cho anh được điều gì ngay bây giờ không?”, Tổng thống hỏi.
若い兵士は、明らかにリンカーンだと気づいていませんでした。彼は必死にささやきました。「母への手紙を書くのを手伝ってください!」
Người lính trẻ rõ ràng không nhận ra Lincoln. Anh cố thều thào: “Xin ông hãy giúp tôi viết một lá thư cho mẹ!”.
ペンと紙が運ばれ、大統領は若い兵士が残されたわずかな力で読み上げることができるよう、一文字一文字丁寧に書き始めました。
Bút và giấy được mang tới, và vị Tổng thống bắt đầu nắn nót viết từng chữ mà người lính trẻ có thể đọc được bằng hơi sức yếu ớt còn lại của mình.
「最愛のお母さん! 僕は任務の遂行中に重傷を負ってしまいました。おそらく助からないと思います。でもお母さん、僕のためにあまり悲しまないでください。メアリーとジョンに、僕の代わりにキスをしてあげてください。神のご加護が父さんと母さんにありますように。」
“Mẹ yêu quý! Con bị thương rất nặng trong khi đang thi hành nhiệm vụ. Con e rằng con không thể qua khỏi được. Nhưng mẹ ơi, mẹ đừng quá đau buồn vì con nhé. Xin hãy hôn em Mary và John giúp con. Xin ơn trên phù hộ cho bố mẹ.”
兵士はあまりにも衰弱しており、続けることができなかったため、大統領は手紙の最後に彼の代わりにに署名をし、さらに一文を書き加えました。「息子さんに代わって ― エイブラハム・リンカーン」
Người lính đã quá yếu sức và không thể tiếp tục được nữa, nên vị Tổng thống ký tên giùm anh vào cuối bức thư và thêm vào dòng chữ: “Viết thay cho con trai bà – Abraham Lincoln”.
若い兵士は手紙を見つめ、自分の最後の願いを叶えるのを手伝ってくれた人の名前を読んで、本当に驚きました。
Người lính trẻ nhìn vào bức thư, và anh thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy tên người đã giúp anh thực hiện nguyện vọng cuối cùng của mình.
「あなたが大統領なのですか?」と彼は尋ねました。
“Ngài chính là Tổng thống ư?”, anh hỏi.
「ええ、そうですよ!」とリンカーンは穏やかに答え、さらに彼のために何かできることはないかと尋ねました。
“Vâng, tôi đây!”, Lincoln trả lời một cách bình thản, và lại tiếp tục hỏi rằng ông có thể làm được gì cho anh.
「私の手を握っていてください!」と彼は言いました。「そうしてくだされば、死に直面する時にとても助けになります!」
“Xin ngài hãy nắm lấy tay tôi!”, anh nói. “Điều đó sẽ giúp tôi rất nhiều khi phải đối mặt với cái chết!”.
そして静まり返った部屋の中で、背の高い痩せた大統領は、若い兵士の手を自分の手でしっかりと握りしめ、彼が安らかに旅立つまで、優しく慰めと励ましの言葉をかけ続けました。
Và trong căn phòng tĩnh lặng, vị Tổng thống cao gầy nắm chặt tay anh lính trẻ trong bàn tay mình, nhẹ nhàng nói những lời an ủi, động viên cho đến khi anh ra đi trong thanh thản.
― ザ・ベスト・オブ・ビッツ
– The Best of Bits
10. ハグ
Cái ôm
ハグは私たちの健康にとって非常に有益です。免疫システムを強化し、失望を癒やし、ストレスを軽減し、安眠をもたらします。それは私たちに新たな活力を与え、人を若返らせ、副作用は一切ありません。ハグこそが魔法の薬なのです。
Cái ôm rất có ích cho sức khỏe chúng ta. Nó giúp tăng cường hệ miễn dịch, chữa lành những nỗi thất vọng, giảm căng thẳng và mang lại một giấc ngủ ngon. Nó tiếp thêm cho chúng ta một nguồn sinh lực mới, giúp con người trẻ lại và không hề gây ra bất cứ một tác dụng phụ nào. Cái ôm chính là một phương thuốc diệu kỳ.
ハグはいつも自然なものです。それは甘い有機化合物であり、人工成分を一切含まず、汚染を引き起こさず、環境にとても優しく、完全に無害です。
Cái ôm luôn tự nhiên. Nó là một hợp chất hữu cơ ngọt ngào, không chứa bất cứ thành phần nhân tạo nào, không gây ô nhiễm, rất thân thiện với môi trường và hoàn toàn lành tính.
ハグは理想的な贈り物であり、あらゆる機会に適しており、贈る人と受け取る人の両方に喜びをもたらし、あなたが相手を気にかけていることを証明します。光沢のある包装紙は必要ありませんし、もちろん、贈ってくれた人にそのままお返しすることもできます。
Cái ôm là một món quà lý tưởng, thích hợp cho mọi dịp, đem lại niềm vui cho cả người trao lẫn người nhận, chứng tỏ rằng bạn luôn quan tâm đến người ấy, không cần phải có một lớp giấy gói bóng láng, và dĩ nhiên, bạn có thể trao tặng lại cho người đã tặng mình.
ハグはあらゆる面でほぼ完璧です。電池を必要としてエネルギー切れになることもなく、インフレも起こさず、肥満の原因にもならず、月給も必要とせず、盗難防止になり、税金もかかりません。
Cái ôm gần như là hoàn hảo về mọi mặt. Nó không cần pin để rồi hết năng lượng, không lạm phát, không gây béo phì, không cần lương tháng, chống được trộm cướp và không bị tính thuế.
ハグは、十分に活用されていないものの、多くの奇跡的な力を持つ資源です。私たちが心と腕を広げる時、それは他の人々にも同じようにするよう促している時でもあるのです。
Cái ôm là một nguồn lực không được sử dụng đúng mức nhưng lại có nhiều sức mạnh kỳ diệu. Khi chúng ta mở rộng trái tim và vòng tay của mình cũng chính là lúc chúng ta động viên người khác cũng làm như vậy.
あなたの人生における親しい人々や友人のことを考えてみてください。彼らに伝えたいことはありますか? 彼らとハグを分かち合いたいですか? それとも、相手からそうしてくれるのを待って期待しているのですか? 待ってはいけません! あなたから始めましょう!
Hãy nghĩ đến những người thân, những người bạn trong cuộc đời mình. Bạn có điều gì muốn nói với họ? Bạn có muốn chia sẻ vòng tay của mình cho họ? Hay là bạn đang chờ đợi và hy vọng người ấy sẽ chủ động điều đó? Đừng chờ đợi! Hãy là người khởi đầu!
― チャールズ・ファラオーネ
– Charles Faraone
私たちは生きるために1日4回のハグを、生活を維持するために1日8回のハグを、そして成長するために1日12回のハグを必要としています。
Chúng ta cần 4 cái ôm mỗi ngày để có thể tồn tại, 8 cái ôm mỗi ngày để duy trì cuộc sống; và 12 cái ôm mỗi ngày để có thể lớn lên.
― ヴァージニア・サティア
– Virgina Satir
Để lại một bình luận
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.